Thẻ

,


– Lâu nay, dạy học phần đọc diễn cảm trong giờ tập đọc ở tiểu học ít được chú ý đúng mức bởi nhiều nguyên nhân từ phía giáo viên, học sinh, đến chương trình sách giáo khoa. Dạy tập đọc phải hướng đến giáo dục học sinh yêu tiếng Việt bằng cách nêu bật sức mạnh biểu đạt của tiếng Việt, sự giàu đẹp của âm thanh, sự phong phú của ngữ điệu trong việc biểu đạt nội dung.

– Tuy vậy để dạy một giờ tập đọc thành công trong đó có phần đọc diễn cảm vẫn còn là những trăn trở đối với mỗi giáo viên đứng trên bục giảng. Bởi dạy tốt phần luyện đọc diễn cảm trong giờ tập đọc, cần bảo đảm nhiều yếu tố và phối hợp nhiều hình thức dạy học sáng tạo từ phía giáo viên đến học sinh.

– Đọc diễn cảm là hình thức đọc thành tiếng một cách rõ ràng, chính xác có ngữ điệu phù hợp với nội dung văn bản, nhằm truyền cảm được nội dung bài đọc đến người nghe. Ban đầu giáo viên hướng dẫn học sinh tốt phần luyện đọc đúng (rõ ràng, chính xác), hiểu được nội dung của đoạn bài được đọc, sau đó giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh thực hiện tốt các phương pháp, yếu tố luyện đọc diễn cảm sau:

A. Ngắt nghỉ giọng đúng lúc, đúng chỗ, bộc lộ được ý tứ nội dung bài đọc.

– Khi đọc các bài văn xuôi, chỗ ngắt giọng phải trùng hợp với danh giới ngữ đoạn. Khi đọc một bài thơ, chỗ ngắt nhịp phải tương ứng với chỗ kết thúc một tiết đoạn. Sự phân chia lời ở dạng nói được hình thức hoá bằng chỗ ngắt giọng. Sự phân chia lời ở dạng viết được hình thức hoá bằng dấu câu. Chỗ ngắt giọng cũng là một căn cứ để người nghe xác định được ý nghĩa của từ, ngữ pháp và nội dung bài đọc. Vì thế khi dạy một bài đọc cụ thể giáo viên cần dự tính những chỗ học sinh hay ngắt giọng sai để xác định điểm cần luyện ngắt giọng.

B. Nhịp điệu đọc thay đổi lúc chậm rãi, lúc dồn dập khẩn trương phù hợp với nội dung bài đọc.

– Bên cạnh việc hướng dẫn học sinh ngắt giọng thể hiện đúng quan hệ ngữ nghĩa- ngữ pháp còn phải dạy cho học sinh tốc độ đọc đúng, ngắt giọng biểu cảm, có nghĩa là đọc nhanh hay ngừng lâu hơn bình thường, hay dừng không do logic ngữ nghĩa mà do dụng ý của người đọc nhằm gây ấn tượng về cảm xúc nhằm tạo nên những chỗ ngừng gây “bão tố”, tập trung sự chú ý của người nghe vào từ ngữ sau chỗ ngừng, những từ ngữ mang trọng âm ngữ nghĩa.

Ví dụ:
Sông La / ơi Sông La
Trong veo / như ánh mắt
Bè đi / chiều thì thầm
Gỗ lượn đàn thong thả.
                    (Bè xuôi Sông La- Tiếng Việt 4, tập 2)

C. Cường độ đọc nhấn mạnh hay lướt nhẹ, âm lượng phát ra to hay nhỏ.

– Khi giảng dạy giáo viên cần chú ý đến thể loại văn, thơ, truyện và nội dung, ý nghĩa của bài học để có phương pháp hướng dẫn học sinh luyện đọc diễn cảm một cách cụ thể và chính xác nhất, không đọc chậm quá, nhanh quá hoặc liến thoáng làm cho người nghe khó theo dõi không hiểu đúng nội dung của bài học và ẩn ý của tác giả gửi gắm, bọc kín sau lớp vỏ ngôn từ.

Ví dụ:
Mai sau
Mai sau
Mai sau
Đất xanh / tre mãi / xanh màu / tre xanh.
                                             (Tre Việt Nam- Tiếng Việt 5)

– Ở khổ thơ trên cần đọc với giọng nhẹ nhàng, thể hiện được dụng ý của tác giả trong cách ngắt nhịp, cách ngắt dòng độc đáo. Sự trùng điệp của ba dòng thơ “Mai sau” có giá trị biểu đạt đặc biệt, ý thơ âm vang bay bổng, câu thơ gợi ra những liên tưởng phong phú: Sự trường tồn của tre, của con người Việt Nam.

D. Giọng đọc lên cao hay xuống thấp.

– Để thực hiện được yêu cầu này, trong giờ tập đọc, giáo viên không được coi nhẹ khâu nào (Đọc đúng, đọc hiểu, đọc diễn cảm). Ba vấn đề này có quan hệ chặt chẽ với nhau để đạt được cái đích cuối cùng trong giờ tập đọc.

– Tuy vậy để học sinh có giọng đọc phù hợp, chính xác cần thực hiện tốt các kỹ năng đọc hiểu như sau: Hiểu nghĩa từ, tìm được từ khoá, câu khoá trong bài, tóm tắt được nội dung của đoạn, bài, phát hiện ra yếu tố văn và giá trị của chúng trong việc biểu đạt nội dung. Cần chú ý đến các yếu tố nghệ thuật được tác giả sử dụng trong văn thơ như: Nhân hoá, so sánh, điệp từ, điệp ngữ.

E. Thay đổi sắc thái giọng đọc.

– Thông qua giọng đọc người đọc có thể biểu hiện được những sắc thái tình cảm đa dạng của con người như vui, buồn, yêu, ghét, lo lắng, giận hờn, khinh bỉ, phẫn nộ…

F. Nét mặt, điệu bộ khi đọc.

1. Khi cần thiết nếu biết thể hiện nét mặt, điệu bộ một cách tự nhiên, phù hợp với nội dung văn bản thì sẽ góp phần tạo nên sự truyền cảm đối với người nghe.

– Chú ý cách ngắt nhịp đặc biệt ở các câu: (Bác không còn?/ Bác không còn!/ Bác ơi!) để nhấn mạnh được nỗi đau xót quá lớn không thể tin đó là sự thật.

2. Một số điểm cần được lưu ý khi rèn kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh tiểu học.

a. Khi luyện đọc văn miêu tả:

Văn miêu tả là loại văn dùng để miêu tả sự vật hiện tượng hoặc con người một cách cụ thể, sinh động như đang hiện lên trước mắt người đọc. Trong các bài tập đọc của tiểu học có nhiều bài văn miêu tả người như: Ông tôi (Tiếng Việt 3), Bà tôi (Tiếng Việt 5) là những bài tả người. Chú trống choai (Tiếng Việt 3), Con chuồn chuồn nước (Tiếng Việt 4) là những bài tả con vật. Cánh đồng lúa chín (Tiếng Việt 2), Rừng cọ quê tôi (Tiếng Việt 4) là những bài tả phong cảnh.

Khi đọc văn miêu tả cần nhấn giọng ở các từ ngữ nổi bật có tác dung miêu tả đường nét, màu sắc, hình ảnh, đặc điểm sự vật. Trong văn miêu tả cũng như văn xuôi, dấu phẩy, dấu chấm chính là những dấu ngắt nhịp khi đọc. Dấu phẩy ngắt một nhịp dấu chấm ngắt 2 nhịp. Ngoài ra, trong câu văn có những vị trí tuy không có dấu câu song vẫn phải ngắt nhịp để ý nghĩa đọc lên rành mạch hơn.

b. Khi đọc diễn cảm thơ cần chú ý:

Thơ là tiếng nói của tình cảm, phản ánh hiện thực cuộc sống bằng ngôn từ một cách cô đọng, súc tích, giàu hình ảnh và giàu nhạc điệu.

– Thơ ca có cấu trúc âm thanh, vần điệu tương đối chặt chẽ theo quy tắc riêng tạo thành các thể thơ như: Thơ lục bát, song thất lục bát, thơ tự do… Vì thế khi giảng, giáo viên cần nắm vững các thể thơ, để phân định rõ ranh giới các nhịp thơ trong bài thơ cụ thể: Ngắt một nhịp, ngắt hai nhịp, giọng đọc đi lên hay đi xuống.

c. Khi luyện đọc văn nghị luận cần chú ý:

– Khi đọc văn nghị luận thì giọng đọc phải rắn rỏi, dứt khoát cần nhấn giọng ở những câu chủ đề, ở những từ ngữ nêu bật lý lẽ và dẫn chứng của bài văn, các từ ngữ có tác dụng liên kết, và ngắt giọng một cách rõ ràng giữa các đoạn trong bài văn nghị luận, như bài: “Lòng yêu nước của nhân dân ta” (Tiếng Việt – Tập2).

d. Luyện đọc văn kể truyện cần lưu ý:

– Cần có nhịp điệu và sắc thái giọng đọc khác nhau khi đọc lời kể của tác giả và của nhân vật.

– Cần phối hợp giọng đọc với nét mặt, cử chỉ, điệu bộ khi đọc một cách nhịp nhàng.

Lời tác giả:

– Tập đọc là một môn thực hành, nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kỹ năng cũng là bốn yêu cầu về chất lượng “đọc”, đó là: Đọc đúng, đọc nhanh, đọc có ý thức và đọc hay. Cũng cần phải hiểu kỹ năng đọc có nhiều mức độ khác nhau, nhiều tầng bậc khác nhau.

– Mong rằng những điều đã nêu trên sẽ góp phần nhỏ vào kinh nghiệm dạy học của đồng nghiệp về phương pháp, hình thức dạy đọc diễn cảm trong môn tập đọc ở tiểu học, nhằm bồi dưỡng cái đẹp, cái thiện, lòng yêu mến và thói quen giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trong mỗi học sinh.

Tác giả: Nguyễn Thị Tiệp
Biên soạn: vibrant trees
Nguồn: http://www.ngoquyen.gov.vn